CHÈ DÂY

Dược liệu

Chè dây

Ampelopsis cantoniensis

Tiêu chuẩn: DĐVN V

Khả năng cung cấp: 500 kg/tháng

Giá: 89.000-245.000 vnđ/kg

Liên hệ

Tính vị, quy kinh: Cam, khổ, lương. Vào kinh tỳ, vị .

Công năng, chủ trị: Tiêu viêm chỉ thống, giải độc sinh cơ. Chủ trị: Đau dạ dày, tá tràng; viêm đại tràng; chậm liền sẹo.

Cách dùng, liều lượng: Ngày dùng từ 10 g đến 12 g, dạng thuốc sắc hoặc hãm.

Mô tả dược liệu khô:

Lá khô thường nhàu nát, khi dàn phẳng có hình trái xoan hoặc hình mũi mác, dài 2,5 cm đến 7,5 cm, phía cuống tù hay hơi tròn, đầu lá nhọn, mép có ít răng cưa. Mặt trên màu lục xám, có những vết trắng loang lổ trông như mốc, mặt dưới màu nhạt hơn. Cuống lá nhẵn, dài 3 mm đến 12 mm. Thể nhẹ, chất giòn, dễ gãy nát, mùi thơm, vị đắng sau hơi ngọt nhẹ.

 

 

Chè dây chữa bệnh dạ dày

Chè dây còn có tên chè hoàng giang, song nho. Tên khoa học: Ampelopsis cantoniensis (Hook. et Arn) Planch., thuộc họ Nho (Vitaceace).

Đây là loài dây leo, cành hình trụ mảnh; tua cuốn đối diện với lá, chia 2-3 nhánh. Lá hai lần kép, mang 7-13 lá chét mỏng giòn, mép có răng thấp; gân bên 4-5 đôi; lá kèm gần tròn, dạng vẩy. Ngù hoa đối diện với lá có 3-4 nhánh; nụ hoa hình trứng; hoa mẫu 5. Quả mọng hình trái xoan to 6 x 5mm, chín màu đen, chứa 3-4 hạt. Cây mọc leo lên bờ bụi vùng đồi núi. Ra hoa tháng 6-7, có quả tháng 9-10.

Tài liệu điều tra cho thấy cây phân bố: Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Nam, Kon Tum, Gia Lai, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Bình Định, Đồng Nai.

Chè dây có thể thu hái dây lá tươi quanh năm. Cành nhỏ và lá chè dây khô dùng nấu nước uống thay chè. Nước chè dây có vị chát, sau hơi ngọt, thơm, dễ uống.

Theo Đông y, Chè dây có vị ngọt, tính mát, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, trừ phong thấp, mạnh gân cốt. Rễ cây lợi thủy tiêu thũng, giảm đau. Cành lá chè dây còn có tác dụng an thần, làm liền sẹo, diệt xoắn khuẩn Helicobacter pylori, chữa viêm dạ dày.

Một số nghiên cứu tác dụng dược lý cho thấy chè dây có tác dụng chống loét dạ dày, giảm đau, kháng khuẩn, chống oxy hóa, không có độc tính cấp và bán trường diễn.

Kinh nghiệm dân gian ở nước ta dùng dây lá chữa các chứng liên quan đến bệnh đau dạ dày như ợ chua, ợ hơi, đau rát thượng vị và làm thuốc an thần, gây ngủ. Hiện nay nhiều người biết đến chè dây như là vị thuốc chữa viêm loét dạ dày, hành tá tràng có hiệu quả, không gây tác dụng phụ, không gây ngộ độc cấp tính.

Rễ và gốc chè dây chữa viêm gan thể vàng da, cảm mạo phong nhiệt, viêm họng, nhọt sảy, mẩn ngứa, viêm tủy xương, viêm hạch bạch huyết cấp tính, trúng độc khi ăn phải vi khuẩn thực vật ưa muối. Rễ cây dùng trị đòn ngã chấn thương, phong thấp tê đau, lá dùng ngoài đắp chữa chấn thương xuất huyết.

Liều dùng từ 15-60g sắc uống. Dùng ngoài, lấy cây tươi giã đắp chấn thương hay đun sôi, xông chữa viêm kết mạc cấp.

Bài thuốc:

1. Chữa đau dạ dày: Theo kinh nghiệm của đồng bào Tày ở Lạng Sơn, Cao Bằng, hàng ngày lấy 30-50g chè dây hãm hoặc sắc uống nhiều lần. Một đợt điều trị từ 15-30 ngày.

2. Chữa cảm mạo phát sốt, hầu họng sưng đau: rễ và thân chè dây 15-60g, sắc uống.

3. Chữa phong thấp, đau nhức khớp, đau thần kinh tọa: rễ và thân chè dây 15-30g, sắc uống. Ngoài dùng lá chè dây tươi giã nát, xào nóng, gói vào vải sạch, đắp vào chỗ đau nhức.

4. Chữa trúng độc thực vật do vi khuẩn ưa muối (đau quặn thắt bụng trên, tiêu chảy ra nước như nước rửa thịt): Rễ tươi chè dây 50g, Gừng tươi 15g, thêm 2 chén nước sắc uống 1-2 lần. Trẻ em, người già hoặc chứng nhẹ giảm bớt liều lượng.

5. Chữa áp xe (ổ mủ do nhiễm trùng) hay tái phát: rễ chè dây 15g, thêm nửa rượu nửa nước sắc uống, hoặc thêm thịt heo nạc hầm ăn.