Trà xanh

 

Trà xanh

Tên khoa học: Camellia sinensis

Tên khác: Chè

Tên tiếng Anh: Tea plant, Tea shrub

 

 

Biên soạn: DS. Nguyễn Văn Thành Đạt

Trà là đồ uống phổ biến thứ hai trên thế giới. Mặc dù tất cả các loại trà có nguồn gốc từ cùng một loại cây, tùy vào phương pháp chế biến sẽ cho ra trà khác nhau như trà xanh, trà đen, trà ô long; những loại này khác nhau về ngoại hình, hương vị và thành phần hóa học.

Trà xanh được đặc trưng bởi nồng độ catechin cao, với hợp chất (–)-epigallocatechin-3-gallate (hay gọi là ECCG) là phong phú nhất. Ngược lại trà đen chứa một lượng lớn theaflavin và thearubigins, chiếm màu sắc và hương vị đặc trưng.

Đặc điểm

Cây Trà (Chè) có tên khoa học là Camellia sinensis. Là một loại cây gỗ, mọc hoang và không xén có thể cao đến 20 m, đôi khi mọc thành rừng trên núi đá cao. Nhưng trong khi trồng người ta thường cắt xén cho tiện thu hái nên cây chỉ cao 1,5 – 2 m. Cây có nhiều cành ngay từ gốc. Lá dài từ 4-15 cm, rộng khoảng 2-5 cm. Lá hay búp non có màu xanh lục nhạt, chuyển sang xanh lục khi già. Hoa to và trắng, có mùi thơm, mọc ở kẽ lá, nhiều nhị. Quả một nang thường có ba ngăn.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây trà có nguồn gốc từ Trung Quốc. Nhân dân quốc gia đông dân nhất thế giới này đã biết dùng trà từ 2500 năm trước Công nguyên, sau tới Ấn Độ và nhiều nước châu Á khác. Hiện nay cây trà được trồng tại nhiều nước châu Á như Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, … Tại Việt Nam, trà được trồng ở nhiều tỉnh: Thái Nguyên, Phú Thọ, Tuyên Quang, Hà Giang, Yên Bái, Hòa Bình, Quảng Nam, Lâm Đồng,…

Trà thường được thu hái vào mùa xuân. Búp lá non sau khi được thu hái sẽ được phơi dưới nắng nhẹ hoặc phòng thoáng mát trước khi hấp hoặc sao rồi sấy khô, bảo quản.

Thành phần hóa học

Người ta thường dùng búp trà (tôm + 3 lá) để sản xuất trà xanh và trà đen. Thành phần hóa học phụ thuộc vào giống, tuổi trà, điều kiện đất đai, địa hình, kĩ thuật canh tác và mùa thu hoạch. Trong búp trà chứ 75-82% nước, tanin (hỗn hợp catechin), cafein, theophyllin, theobromin, adenin, xanthin. Ngoài ra trong trà còn có đến 17 acid amin được kết hợp với đường và tanin tạo ra mùi thơm cho trà đen và dư vị tốt cho trà xanh. Trà xanh thường trải qua ít công đoạn chế biến hơn, nên giữ được phần lớn chất trong lá trà.

Công dụng

Trà được dùng pha nước uống, dùng riêng hoặc kết hợp với một số vị khác đem lại nhiều công dụng có ích:

– Bảo vệ sức khỏe tim mạch

– Thanh nhiệt giải độc

– Chữa viêm họng, bệnh răng miệng

– Chữa đầy bụng, đầy hơi

– Lợi tiểu, làm giảm huyết áp

– Giảm nguy cơ sỏi mật

– Giúp thư giãn, giảm lo âu, chống lão hóa

– Giảm cân và giảm nguy cơ tiểu đường

Ngoài ra, các nhà khoa học Nhật Bản còn cho rằng trà có tác dụng chống được phóng xạ Stronti Sr90. Thành phần polyphenol trong trà có tác dụng chống oxi hóa rất tốt. Rất nhiều nghiên cứu trên thế giới chỉ ra trà có tác dụng chống lại các bệnh tim mạch, hội chứng chuyển hóa, bệnh thoái hóa thần kinh, và đặc biệt là khả năng phòng ngừa ung thư rất triển vọng. Ngày càng có nhiều bằng chứng củng cố cho kết quả này.

Pha chế

Không chỉ mỗi nguyên liệu tốt mới đem lại một tách trà ngon mà còn phụ thuộc rất nhiều vào cách pha trà. Các pha trà còn được nhiều người ví như là một nghệ thuật.

Với trà tươi, rửa sạch lá, vò nát rồi cho vào bình, châm nước sôi và để 5-10 phút rồi uống. Với trà khô thì nên châm nước ấm (61-87 độ), chờ khoảng 5 phút là dùng được. Nếu dùng nước quá nóng, hoặc hãm trà quá lâu sẽ giải phóng lượng tanin quá mức, làm nước trà đặc và đắng hơn.

Lưu ý khi sử dụng

Ngoài những tác dụng có ích cho sức khỏe, dùng trà xanh không đúng cách cũng mang lại những tác dụng phụ.

– Do trà có thành phần cafein nên uống nhiều lần trong ngày sẽ dẫn tới mất ngủ, hội chứng kích thích ruột, tiêu chảy hoặc táo bón,… Vì vậy không nên dùng kèm với các đồ uống có chứa cafein như cà phê, nước tăng lực để xảy ra những tác dụng phụ kể trên.

– Những người đang sử dụng thuốc kích thích chức năng hệ thần kinh thì không nên dùng chung với trà xanh để tránh gây tác dụng hiệp đồng giữa thuốc với trà xanh, có thể dẫn tới chóng mặt, choáng váng tăng huyết áp đột ngột,…

– Không uống trà xanh lúc bụng đói.

– Người có nguy cơ thiếu hụt canxi hoặc bệnh loãng xương thì không nên dùng trà xanh do trà xanh ức chế khả năng hấp thu sắt và canxi của cơ thể.

Để trà là một người bạn tốt của sức khỏe

Không uống trà lạnh do gây đình trệ khí, gây tiết đờm.

– Không uống trà đã để quá lâu do trà sẽ bị oxi hóa và nhiễm khuẩn.

– Không nên pha lại trà nhiều lần (nước trà), do các chất có lợi như nguyên tố vi lượng sẽ không còn.

– Không uống trà trước và sau ăn. Uống trước ăn sẽ làm loãng dịch vị. Uống sau ăn tanin trong trà làm vón protein trong thức ăn, gây khó tiêu hóa, ngoài ra còn cản trở hấp thu canxi, sắt, hai nguyên tốt cần thiết cho máu và hệ cơ xương.

– Đặc biệt không uống trà với bất kì loại thuốc nào, sẽ làm ảnh hưởng đến hiệu quả của thuốc.

– Không uống trà để qua đêm.

– Phụ nữ đến “ngày đèn đỏ” không nên uống trà vì sẽ gây mất máu nhiều hơn.

– Hạn chế uống trà trước khi đi ngủ, do trà có thể gây mất ngủ.

– Không nên uống trà quá đặc.